Nếu đã công tác ở cơ quan Thành ủy 30 năm thì anh trai bạn có khả năng là viên chức hoặc công chức.
Theo quy định của pháp luật về viên chức thì viên chức bị chết không thuộc trường hợp được hưởng chế độ thôi việc. Những trường hợp được hưởng chế độ thôi việc theo quy định của pháp luật về viên chức hiện hành gồm có: Viên chức tuyển dụng trước ngày 01/7/2003 có đơn tự nguyện xin thôi việc được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản; viên chức tuyển dụng từ ngày 01/7/2003 có đơn tự nguyện xin thôi việc được người đứng đầu đơn vị đồng ý chấm dứt hợp đồng làm việc; viên chức tuyển dụng từ ngày 01/7/2003 hết hạn của hợp đồng làm việc mà không được người đứng đầu đơn vị ký tiếp hợp đồng làm việc.
Tương tự như đối với viên chức, công chức sẽ không được hưởng chế độ thôi việc khi bị chết. Các trường hợp công chức được hưởng chế độ thôi việc theo quy định của Luật Cán bộ công chức gồm có: Do sắp xếp của tổ chức; theo nguyện vọng và được cấp có thẩm quyền đồng ý; công chức 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết thôi việc.
Tuy nhiên, nếu như anh trai của bạn đã làm việc tại Thành ủy theo chế độ hợp đồng lao động (HĐLĐ) thì theo quy định tại khoản 5 điều 36 Bộ Luật Lao động, việc anh trai bạn bị chết cũng được xem là một hình thức chấm dứt HĐLĐ. Vì vậy, trong trường hợp này, anh trai bạn sau khi chết cũng vẫn thuộc đối tượng được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật lao động, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương (nếu có).

Luật sư Nguyễn Văn Hậu – Phó Chủ tịch Hội Luật gia TP.HCM

Tại kỳ họp Quốc hội khóa XIII vừa qua đã ra Nghị quyết số 99/2015/QH13 ngày 11/11/2015 về dự toán ngân sách năm 2016. Theo đó, từ ngày 01/01/2016 đến ngày 30/4/2016, giữ nguyên mức hưởng của các đối tượng đã được tăng 8% theo Nghị định số 09/CP (tức nghỉ hưu trước ngày 31/12/2014). Đối với người nghỉ hưu từ ngày 01/01/2015 đến 30/4/2016 sẽ được tăng thêm 8% từ ngày 01/5/2016.

Ông Trần Văn Triều – Giám đốc TT Tư vấn Pháp luật LĐLĐ TP.HCM

Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 của điều 36 Bộ Luật Lao động thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên. Căn cứ quy định trên, người đặt câu hỏi đã làm việc theo chế độ hợp đồng lao động đủ 12 tháng trở lên.

Đại diện Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP.HCM

      Điểm a, khoản 1, điều 2 Luật BHXH 2006 quy định: NLĐ tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm: Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên.
Ngoài ra, khoản 2, điều 1, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật BHYT 2014 quy định: Mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc theo quy định của Luật BHXH (sau đây gọi chung là tiền lương tháng), tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương cơ sở. Như vậy, việc con của ông (bà) có được tham gia BHXH và BHYT bắt buộc hay không thì còn phụ thuộc vào HĐLĐ của con ông (bà) thời gian bao lâu.
Về trường hợp của cháu ông (bà), theo quy định của Luật BHXH 2006, NLĐ được nhận trợ cấp BHXH một lần khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi có dưới 15 năm đóng BHXH; Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH mà không tiếp tục đóng BHXH; chưa đủ 20 năm đóng BHXH mà không tiếp tục đóng BHXH và có yêu cầu nhận BHXH một lần; Ra nước ngoài để định cư. Như vậy, nếu cháu ông (bà) đã tham gia BHXH trên 20 năm mà không ra nước ngoài định cư thì sẽ không được nhận trợ cấp BHXH một lần. Toàn bộ thời gian đã tham gia BHXH được ghi nhận tại sổ BHXH. Khi cháu ông (bà) chuyển công tác về Đà Nẵng thì Cty nơi cháu ông (bà) làm việc sẽ làm thủ tục chốt sổ BHXH để cháu ông (bà) mang về nộp cho Cty mới. Cty mới sẽ có trách nhiệm tham gia BHXH cho cháu ông (bà) nếu cháu ông (bà) thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Toàn bộ quá trình tham gia BHXH sẽ được cộng dồn để được tính hưởng lương hưu hay trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (nếu chẳng may xảy ra).

Văn phòng tư vấn Pháp luật Báo Lao Động

         Theo quy định tại khoản 2, Điều 50, Luật Việc làm thì thời gian hưởng TCTN được tính như sau: “Cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 3 tháng TCTN, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 1 tháng TCTN nhưng tối đa không quá 12 tháng”.
Như vậy, nếu bạn đóng đủ 12 tháng hay đủ 36 tháng bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đều được tính thời gian hưởng TCTN là 3 tháng. Nếu đóng hơn 3 năm thì vẫn được tính là 3 tháng nếu số tháng dư ra không đủ 12 tháng.
Theo quy định tại Điều 49, Luật Việc làm thì điều kiện hưởng TCTN gồm: Chấm dứt HĐLĐ; đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ hoặc đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ (đối với các hợp đồng từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng); đã nộp hồ sơ hưởng TCTN tại trung tâm giới thiệu việc làm; chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN. Nếu bạn chấm dứt HĐLĐ và có công việc mới (trong vòng 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN) thì sẽ không còn đủ điều kiện để nhận TCTN. Thời gian đã đóng BHTN sẽ được bảo lưu và cộng dồn để tính TCTN cho lần sau.

LS Hà Hải, Trưởng VPLS Hà Hải và cộng sự, Đoàn luật sư TPHCM

        Điều 104 Bộ luật Lao động 2012 quy định về thời giờ làm việc như sau: Thời giờ làm việc bình thường không quá 8 giờ trong 1 ngày và 48 giờ trong 1 tuần; NSDLĐ có quyền quy định làm việc theo giờ hoặc ngày hoặc tuần; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 1 ngày, nhưng không quá 48 giờ trong 1 tuần; Nhà nước khuyến khích NSDLĐ thực hiện tuần làm việc 40 giờ. Thời giờ làm việc không quá 6 giờ trong 1 ngày đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ LĐTBXH chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.
Như vậy, việc Cty đã yêu cầu NLĐ phải làm 8h30 nhưng chỉ trả lương 8h là không đúng. Thời gian 30 phút đó phải được tính là tiền thêm giờ.

LS Tăng Quốc Thừa, Hãng luật Giải phóng, Đoàn Luật sư TPHCM

       Khoản 3, Điều 98 Bộ luật Lao động 2012 quy định: Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động (NSDLĐ), người lao động (NLĐ) hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế, thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.
Trường hợp của bạn nói trên, nếu Cty không trả lương cho công nhân (CN) trong 2 ngày là chưa đúng quy định của pháp luật. Cty phải trả lương cho các CN, tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.

LS Tăng Quốc Thừa – Hãng luật Giải Phóng, Đoàn luật sư TPHCM

      Người lao động trong thời gian thai sản được ủy quyền cho người khác nộp hồ sơ hoặc gửi hồ sơ đăng ký hưởng TCTN qua đường bưu điện. Tuy nhiên, trong thời gian hưởng TCTN, hằng tháng, người lao động phải trực tiếp thông báo về tình trạng việc làm với trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng TCTN.
Do vậy, trong thời hạn 3 ngày kể từ khi nghỉ thai sản, người lao động phải gửi thư hoặc ủy quyền cho người khác nộp giấy đề nghị không thực hiện thông báo tình trạng việc làm hằng tháng. Hết thời hạn nghỉ thai sản, người lao động phải tiếp tục thực hiện thông báo về tình trạng việc làm theo quy định.

NLĐO

Công đoàn cơ sở là tổ chức cơ sở của công đoàn, tập hợp đoàn viên công đoàn trong một hoặt một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, được công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở công nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều lệ Công đoàn Việt Nam (Điều 4 Luật Công đoàn).

Theo quy định tại Điều 10 Luật Công đoàn và Nghị định số 43/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Điều 10 của Luật Công đoàn về quyền, trách nhiệm của Công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động thì công đoàn cơ sở có 10 nhóm quyền, trách nhiệm là:

1- Hướng dẫn, tư vấn cho người lao động về quyền, nghĩa vụ của người lao động khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với đơn vị sử dụng lao động.

2- Đại diện cho tập thể người lao động thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể.

3- Tham gia với đơn vị sử dụng lao động xây dựng và giám sát việc thực hiện thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động.

4- Đối thoại với đơn vị sử dụng lao động để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động.

5- Tổ chức hoạt động tư vấn pháp luật cho người lao động.

6- Tham gia với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động.

7- Kiến nghị với tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể lao động hoặt người lao động bị xâm hại.

8- Đại diện cho tập thể người lao động khởi kiện tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của tập thể lao động bị xâm phạm; đại diện cho người lao động khởi kiện tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động bị xâm phạm và được người lao động ủy quyền.

9- Đại diện cho tập thể người lao động tham gia tố tụng trong các vụ án lao động, hành chính, phá sản doanh nghiệp.

10- Tổ chức và lãnh đạo đình công.

   Trước khi giao kết hợp đồng lao động, các bên có quyền thỏa thuận, giao kết hợp đồng thử việc: việc thử làm, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc …. (khoản 1 Điều 26 Bộ Luật Lao động).

          Thời gian thử việc (khoản 2 Điều 26, Điều 27 Bộ Luật Lao động):
– Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;
– Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;
– Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác;
– Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động mùa vụ thì không phải thử việc.

         Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc: hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công viêc đó (Điều 28 Bộ Luật Lao động).

         Quyền và nghĩa vụ các bên trong và sau khi kết thúc thời gian thử việc (Điều 29 Bộ Luật lao động):
– Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động

       – Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ thỏa thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thỏa thuận.